15 nhiệm vụ đột phát nhất của NASA phần 2: Hành trình khám phá

15 nhiệm vụ đột phát nhất của NASA phần 2: Hành trình khám phá

Vũ trụ vẫn là một thứ gì đó rất hấp dẫn chúng ta, con người có lẽ sẽ không bao giờ khám phá hết được vũ trụ.

Như ở phần trước, mình đã viết về quá trình hình thành cũng như phát triển của NASA trong cuộc chạy đua không gian giữa Mỹ và Nga. Từ đó, hình thành nên trạm vũ trụ quốc tế ISS.  Ở phần này, mình sẽ tiếp tục viết về những thành tự mới của NASA.

Mọi người có thể xem lại tại đây: 15 nhiệm vụ đột phát nhất của NASA phần 1: Cuộc chạy đua không gian

Tàu vũ trụ Kepler

- Ảnh:Slashgear

Tàu vũ trụ Kepler hay Kính viễn vọng không gian Kepler được phóng vào ngày 7 tháng 3 năm 2009. Mục đích chính của tàu vũ trụ này là khám phá và quan sát các hành tinh nằm trong dải Ngân hà, các hành tinh kiểu Trái Đất quay xung quanh các ngôi sao khác.

Được thiết kế để theo dõi hơn 100.000 ngôi sao về sự tồn tại của các hành tinh ngoài hệ Mặt Trời, Kepler cuối cùng đã phát hiện ra hơn 2.600 ngôi sao. Kepler ngừng hoạt động vào tháng 10 năm 2018, sau hơn chín năm làm việc.

Di sản của tàu vũ trụ Kepler là đã phát hiện được rất nhiều hành tinh có sự sống, lập được bản đồ ngoài vũ trụ và nó giúp cho các thấy được có bao nhiêu thiên thể hành tinh khác trong thiên hà của chúng ta.

Freedom 7 Mission

- Ảnh:Slashgear

Liên Xô không chỉ phóng vệ tinh thành công đầu tiên lên quỹ đạo vào năm 1957 mà còn đánh bại Mỹ trong việc đưa một con người lên quỹ đạo. Theo ghi nhận của Space, vào ngày 12 tháng 4 năm 1961, nhà du hành vũ trụ Yuri Gagarin đã quay quanh Trái đất trong 108 phút khi ở trên tàu Vostok 1. NASA không muốn tụt lại quá xa so với Liên Xô, họ đã tuyển dụng phi công thử nghiệm của Hải quân Hoa Kỳ Alan Shephard làm phi hành gia đầu tiên của NASA được đưa vào quỹ đạo. Anh ta được đưa vào không gian trên con tàu Mercury (được đặt tên là Freedom 7) vào ngày 5 tháng 5 năm 1961.

Thời gian mà Shephard du hành vũ trụ ngắn hơn so với nhà du hành vũ trụ Liên Xô, nhưng ông đã ghi tên vào lịch sử khi là người Mỹ đầu tiên bay vào không gian. Điều này làm phấn chấn tinh thần của người dân Hoa Kỳ, khi họ thấy rằng Hoa Kỳ vẫn có khả năng cạnh tranh với Liên Xô trong cuộc chạy đua không gian.

Shephard đã trở thành một nhân vật quan trọng trong NASA, cuối cùng ông đã đi bộ trên bề mặt của mặt trăng trong sứ mệnh Apollo 14 vào năm 1971.

Apollo 8

- Ảnh:Slashgear

Trước khi NASA có thể cố gắng hạ cánh con người lên mặt trăng, họ cần phải chứng minh rằng làm như vậy một cách an toàn. Các mô phỏng được thực hiện trên Trái đất đã được thử nghiệm rất nhiều và dữ liệu và dự đoán từ những nỗ lực này thực sự không giống như một cuộc đổ bộ mặt trăng thực sự. Đây là nơi sứ mệnh Apollo 8 bắt đầu thực hiện.

Được phóng lên không gian vào ngày 21 tháng 12 năm 1968, sứ mệnh Apollo này mang theo ba phi hành gia Frank Borman, James A. Lovell, Jr. và William A. Anders. Đây là phi hành đoàn có người lái đầu tiên rời khỏi tên lửa và là người đầu tiên quan sát Trái đất từ ​​xa.

Theo Smithsonian Air and Space , mục đích của Apollo 8 là chở phi hành đoàn lên mặt trăng và quay trở lại, mà không cần hạ cánh xuống bề mặt mặt trăng. Để thực hiện một cuộc đổ bộ lên mặt trăng thực sự, trước tiên cần chắc chắn rằng chương trình Apollo không chỉ có khả năng đến được mặt trăng mà còn có thể quay quanh thiên thể này thành công.

Ngoài ra, các phi hành gia trên tàu Apollo 8 là những người đầu tiên chụp được hình ảnh Trái đất từ ​​quỹ đạo Mặt trăng. Những bức ảnh tuyệt đẹp của họ vẫn còn được lưu truyền rộng rãi cho đến ngày nay.

Explorer 1

- Ảnh:Slashgear

Như đã nói ở trên, việc chính phủ Liên Xô phóng thành công vệ tinh không gian Sputnik vào ngày 4 tháng 10 năm 1957 đã khiến chính phủ Hoa Kỳ rơi vào tình trạng hoảng sợ. Với sự hiểu biết rằng Liên Xô cũng có khả năng gây ra chiến tranh hạt nhân, các quan chức chính phủ Hoa Kỳ đã thấy trước một viễn cảnh ác mộng, trong đó kẻ thù trong Chiến tranh Lạnh của họ sẽ thống trị bầu trời đêm, buộc Hoa Kỳ phải chịu thua cuộc.

Không lãng phí thời gian, Cơ quan Tên lửa đạn đạo của Quân đội Mỹ đã đưa tên lửa Jupiter mang vệ tinh của chính mình lên quỹ đạo. Vào ngày 31 tháng 1 năm 1958, Explorer 1 đã được phóng. Vệ tinh này quay quanh Trái đất hơn 58.000 lần trước khi đâm vào bầu khí quyển của Trái đất vào ngày 31 tháng 3 năm 1970.

Với sự thành công của Explorer 1, cuộc đua không gian đã bước sang giai đoạn cao. Chính phủ Hoa Kỳ ngay lập tức xây dựng thêm các vệ tinh Explorer, cố gắng thực hiện bốn lần phóng tiếp theo trong suốt năm 1958. Trong tổng số năm tàu ​​thám hiểm được phóng, chỉ có ba lần ra khỏi bầu khí quyển của Trái đất.

Đài quan sát tia X Chandra

- Ảnh:Slashgear

Đài quan sát tia X Chandra được phóng vào ngày 23 tháng 7 năm 1999. Vì Trái đất tự hấp thụ tia X khi chúng đi vào bầu khí quyển của nó, nên Chandra cần được phóng đi và nằm ngoài quỹ đạo của Trái đất. Sau khi phóng thành công, Chandra trở nên nổi tiếng là kính thiên văn mạnh nhất thế giới.

NASA đã khởi động Đài quan sát tia X Chandra để phát hiện và quan sát sự phát xạ tia X từ một số sự kiện nóng nhất trong vũ trụ. Theo Chandra, điều này bao gồm việc thu thập dữ liệu từ các ngôi sao đã phát nổ, các khu vực xung quanh lỗ đen và các cụm thiên hà.

Những hình ảnh mà đài thiên văn này đã chụp được bao gồm một lỗ đen ở trung tâm của thiên hà Milky Way, sự tách biệt của vật chất tối với vật chất bình thường và các vùng xung quanh lỗ đen. Chandra cũng đã có thể phát hiện ra các lỗ đen trên khắp vũ trụ, giúp các nhà khoa học bắt đầu vạch ra sự rộng lớn của những gì nằm ngoài mắt thường.

Còn nữa,...




CÙNG CHỦ ĐỀ

HOT NHẤT

Thống kê