15 nhiệm vụ đột phát nhất của NASA phần 1: Cuộc chạy đua không gian

15 nhiệm vụ đột phát nhất của NASA phần 1: Cuộc chạy đua không gian

Trong quá trình phát triển của mình, NASA đã giúp cho nhận loại có được nhiều cái nhìn mới mẻ hơn về thế giới ngoài vũ trụ.

Loài người đã khao khát khám phá không gian kể từ khi tổ tiên của chúng ta bắt đầu nghiên cứu bầu trời đêm cách đây hàng thiên niên kỷ. Những gì chúng ta có thể đạt được trong hơn 63 năm qua là sự cống hiến, kiên trì và trí tưởng tượng của vô số người. Trong khi nhiều quốc gia đã hỗ trợ rất nhiều nhiệm vụ bên ngoài bầu khí quyển của Trái đất, NASA chắc chắn được xem là "đầu tàu" cho các chiến dịch khám phá vũ trụ.

- Ảnh:Slashgear

NASA đã hạ cánh thành công các phi hành gia lên bề mặt của mặt trăng, hợp tác với các chính phủ châu Âu trong việc khám phá mặt trăng lớn nhất của sao Thổ và phát triển kính viễn vọng không gian có thể chụp được những vùng xa của vũ trụ.

Mặc dù danh sách này không có nghĩa là phác thảo mọi thành tựu lớn, nhưng nó sẽ cho thấy một số góc nhìn về những gì cơ quan vũ trụ Hoa Kỳ này đã có thể đạt được kể từ khi thành lập vào năm 1958.

Được hình thành một phần là phản ứng trước việc Liên Xô phóng thành công vệ tinh Sputnik, NASA đã chạy đua để kéo Mỹ vượt lên trước đối thủ trong Chiến tranh Lạnh của họ vào cuối thập kỷ của thế kỷ 20. Tuy vậy, bên cạnh những thành công, NASA cũng đã từng gặp phải những thất bại to lớn như thảm kịch nghiêm trọng đã cướp đi sinh mạng của gần 30 thành viên phi hành đoàn NASA trong các sự cố khác nhau trong nhiều năm.

Apollo 11 đổ bộ lên mặt trăng

- Ảnh:Slashgear

Khi Tổng thống John F. Kennedy có bài phát biểu nổi tiếng “Chúng tôi chọn lên Mặt trăng” tại Đại học Rice vào ngày 12 tháng 9 năm 1962, Hoa Kỳ đã đi sau Liên Xô trong cuộc chạy đua không gian. Trong một nỗ lực nhằm thúc đẩy sự ủng hộ của cả công chúng và quốc hội nhằm tăng ngân sách cho NASA, Kennedy đã đưa ra một bài diễn văn tuyên bố rằng Hoa Kỳ sẽ hạ cánh lên mặt trăng trước khi kết thúc thập kỷ này.

Sứ mệnh Apollo 11 được khởi động vào ngày 16 tháng 7 năm 1969, mang theo các phi hành gia Neil Armstrong, Michael Collins và Edwin “Buzz” Aldrin. Bốn ngày sau, vào ngày 20 tháng 7, Aldrin và Armstrong đã chạm mặt trăng thông qua Lunar Module. Họ đã cùng nhau trải qua 21 giờ 36 phút trên bề mặt Mặt trăng của Trái đất.

Ba thành viên phi hành đoàn của Apollo 11 đã hạ cánh xuống Thái Bình Dương một cách an toàn vào ngày 24 tháng 7. Họ đã được tàu vớt, USS Hornet vớt lên.

Nhân loại cuối cùng đã hoàn thành một kỳ tích mà trước đây chỉ có trong trí tưởng tượng. Tổng cộng, ước tính có 650 triệu người trên toàn thế giới đã xem trực tiếp sự kiện này, lập một kỷ lục mới vượt trội cho đến khi Thái tử Charles kết hôn với Phu nhân Diana vào năm 1981.

Voyager I

- Ảnh:Slashgear

Voyager I là một số sứ mệnh khách của NASA trong việc đi tìm những bí mật ngoài vũ trụ. Voyager I lang thang ngoài không gian trong nhiều thập kỷ, cung cấp cho các nhà khoa học nhiều cái nhìn mới hơn về mọi thứ bên ngoài Trái Đất.

Được phóng lần đầu tiên vào ngày 5 tháng 9 năm 1977, nhiệm vụ chính của tàu Voyager 1 là thực hiện các chuyến bay đến Sao Thổ và Sao Mộc và chuyển tiếp hình ảnh về Trái đất để nghiên cứu. Hơn 44 năm sau, tàu vũ trụ này vẫn đang bay qua không gian và đã rời khỏi hệ mặt trời của chúng ta vào tháng 8 năm 2012. Nó vẫn đang truyền dữ liệu cho đến ngày nay.

Trên tàu Du hành 1 là “Bản ghi vàng”, chứa đựng những lời chào của Trái đất tới những sinh vật tương lai ở thế giới khác bằng hơn 55 ngôn ngữ. Các bản ghi âm nhạc khác nhau, từ Chuck Berry đến Beethoven, cũng như nhiều hình ảnh khác nhau về con người trên Trái đất.

Đã có nhiều quan sát được thực hiện bởi Voyager 1 giúp vạch ra hệ mặt trời của chúng ta. Những khám phá về hai mặt trăng bổ sung của Sao Mộc (Thebe và Metis), một vòng mỏng xung quanh Sao Mộc, và năm mặt trăng mới được quan sát của Sao Thổ đã thay đổi cấu trúc đã biết của các thiên thể quay xung quanh mặt trời của chúng ta.

Kính viễn vọng không gian Hubble

- Ảnh:Slashgear

Khả năng chụp ảnh vượt xa những gì kính thiên văn Trái đất có thể đạt được đã được công nhận vào năm 1990. Vào ngày 24 tháng 4 năm đó, Kính viễn vọng Không gian Hubble được phóng lên quỹ đạo thông qua tàu con thoi Discovery. Quay quanh Trái đất ở độ cao hơn 300 dặm so với bề mặt của nó, Hubble đã truyền hình ảnh về Trái đất trong hơn 30 năm nay.

Hubble đã có thể cho người dân Trái đất thấy cả vẻ đẹp và sự rộng lớn của những thế giới tồn tại ngoài những gì mắt thường của chúng ta nhìn thấy. Nó còn cung cấp những cái nhìn mới hơn và rộng hơn về các ngôi sao bên ngoài vũ trụ.

Hubble có thể duy trì hoạt động một phần do các nhiệm vụ bảo dưỡng khác nhau giúp kính viễn vọng không gian được duy trì và cập nhật. Nhiệm vụ bảo dưỡng cuối cùng được thực hiện vào năm 2009.

Mars Pathfinder

- Ảnh:Slashgear

Người máy đầu tiên hạ cánh trên bề mặt Sao Hỏa, Mars Pathfinder đã chạm xuống bề mặt Hành tinh Đỏ vào ngày 4 tháng 7 năm 1997. Mars Pathfinder đã truyền dữ liệu về Trái đất cho đến ngày 27 tháng 9 năm 1997. Trong khoảng thời gian đó, hơn 2,3 tỷ bit thông tin đã được gửi lại cho các nhà khoa học trên Trái đất, cùng với gần 17.000 hình ảnh.

NASA đã công bố thông tin về thêm 15 cuộc thử nghiệm đất riêng biệt do The Pathfinder thực hiện, trong đó bề mặt sao Hỏa được phân tích. Kết quả kiểm tra kết luận rằng bề mặt sao Hỏa từng rất ẩm ướt và ấm áp. Các phân tích về các loại đá khác nhau, cùng với gió trên bề mặt hành tinh, giúp xây dựng bức tranh tốt hơn về tác động của xói mòn do gió lên hành tinh.

Con tàu vũ trụ này bao gồm hai phần: một tàu đổ bộ không gian và một robot thám hiểm. Tàu đổ bộ được đặt tên là Đài tưởng niệm Carl Sagan theo tên nhà thiên văn học quá nổi tiếng. Bản thân chiếc xe được đặt biệt danh là Sojourner, theo tên của người theo chủ nghĩa bãi nô và nhà lãnh đạo dân quyền ở thế kỷ 19 là Sojourner Truth.

Trạm không gian quốc tế

- Ảnh:Slashgear

Ý tưởng duy trì một trạm vũ trụ quay quanh quỹ đạo đã được hình thành từ rất sớm trong chương trình của NASA. Nhưng phải mất nhiều năm tiến bộ công nghệ và hợp tác quốc tế trước khi giấc mơ này trở thành hiện thực. Theo lệnh của Tổng thống Ronald Reagan lúc bấy giờ, NASA bắt đầu hợp tác với chương trình không gian Nhật Bản và Cơ quan Vũ trụ Châu Âu vào năm 1984. Đến năm 1998, đã có thêm một số bên khác tham gia hợp tác bao gồm Roscosmos của Nga và Cơ quan Vũ trụ Canada.

Việc xây dựng bắt đầu vào cuối năm 1998 và Trạm Vũ trụ Quốc tế (ISS) lần đầu tiên có người ở vào năm 2000. Kể từ đó, nó đã liên tục có các nhà khoa học làm việc trên đó, đôi khi chỉ có ba thành viên phi hành đoàn trên tàu.

ISS tiếp tục phát triển và các cải tiến. Trong khi các thành viên phi hành đoàn thực hiện một phần lớn các nhiệm vụ này, họ cũng được giao nhiệm vụ thí nghiệm và nghiên cứu trong phòng thí nghiệm. Kết quả sẽ giúp định hướng loài người theo hướng có thể sống vô thời hạn trên bề mặt Trái đất hay không. Học cách đối phó với tình trạng gần như không trọng lượng, tiếp xúc với bức xạ và các mối nguy hiểm khác khi du hành vũ trụ chỉ là một phần trong những gì các nhà khoa học cần khắc phục trước khi điều này có thể thực hiện được.

Tính đến tháng 4 năm 2021, 244 người từ chín quốc gia đã lên ISS.

Còn nữa....




CÙNG CHỦ ĐỀ

HOT NHẤT

Thống kê